Phap ly bat dong san Vung Tau

Ngày 28/9/2016, UBND thành phố Vũng Tàu đã ban hành Quyết định số 9048/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh cục bộ phân lô và lộ giới Khu nhà ở Nam Kỳ Khởi Nghĩa , phường 3, thành phố Vũng Tàu, cụ thể sau:

1. Điều chỉnh phạm vi ranh giới: Khu vực điều chỉnh cục bộ tại lô F1 (từ lô 01 ÷ 09, lô 21, 22) và Lô G2 (từ lô 27 ÷ lô 37) thuộc quy hoạch 1/500 Khu nhà ở Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Nam Thống Nhất nối dài), phường 3, thành phố Vũng Tàu.

2. Điều chỉnh quy mô và tính chất:

Quy mô: Diện tích khu vực điều chỉnh cục bộ quy hoạch: 2.439,0m2, điều chỉnh tổng diện tích dự án từ 15.072,5m2 thành 10.696,2m2 (do một phần diện tích dự án đã chuyển nhượng cho các chủ đầu tư khác).
Tính chất khu vực điều chỉnh cục bộ: là khu đất nhà ở liên kế

3. Nội dung điều chỉnh cục bộ:

a. Quy hoạch sử dụng đất:
-  Lô F1: Điều chỉnh kích thước các lô đất từ lô 01 ÷ 09, lô 21, 22 cho phù hợp với thực tế sử dụng.
- Lô G2: Điều chỉnh chiều dài các lô đất từ lô 27 ÷ lô 37 từ 22,5m thành khoảng 17,5m và phần chiều dài còn lại khoảng 5m điều chỉnh thành đường giao thông (Mặt cắt 5 – 5)
-  Diện tích, kích thước cụ thể các lô đất điều chỉnh tại Lô F1 và G2 được thể hiện chi tiết trong Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng được duyệt.














- Tại khu vực điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh hệ thống đấu nối hạ tầng kỹ thuật cho từng lô đất xây dựng nhà ở cho phù hợp.
- Giữ nguyên hướng tuyến và mặt cắt 4-4 đường quy hoạch hướng Đông Bắc dự án theo đúng quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu nhà ở Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 3, thành phố Vũng Tàu và quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 Khu dân cư Nam Sân bay đã được UBND tỉnh phê duyệt.
-  Điều chỉnh mặt cắt các tuyến đường nội bộ như sau:
+ Mặt cắt 1 – 1: Điều chỉnh lộ giới từ 30,5m ( 3m-7m-10,5m-7m-3m)
Thành 29,5m (3m-7m-9,5m-7m-3m).
+ Mặt cắt 2 – 2: Điều chỉnh lộ giới từ 13m (3m-7m-3m) thành 12,5m (3m-7m-2,5m)
+ Mặt cắt 3 – 3: Điều chỉnh lộ giới từ 12,5m (2,75m-7m-2,75m) thành 12m (2m-8m-2m)
+ Mặt cắt 4 – 4: Giữ nguyên lộ giới 13m (3m-7m-3m)
+ Mặt cắt 5 – 5: Điều chỉnh lộ giới từ 13m (3m-7m-3m) tại Lô G2 đoạn từ lô 27 đến lô 37 thành 18,2m (1,2m-4m-3m-7m-3m) 

4. Thiết kế đô thị:
Nhà ở được xây dụng theo bản vẽ thiết kế mẫu đã được Sở Xây dựng thỏa thuận tại Văn bản số 211/XD-KTQH ngày 20/3/2006.

Các quy định khác:

+ Hình thức kiến trúc ngoài công trình: Hiện tại, hạn chế các chi tiết rườm rà và tuân thủ các quy định tại Điều 24 “Quy định về hình thức kiến trúc ngoài công trình” của Quy chế Quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị thành phố Vũng Tàu đã được UBND thành phố Vũng Tàu phê duyệt tại Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND ngày 08/7/2014.
+ Vật liệu màu sắc công trình: cổng – tường rào; vỉa hè: Tuân thủ các quy định của Quy chế Quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị thành phố Vũng Tàu đã được UBND thành phố Vũng Tàu phê duyệt tại Quyết định số số 03/2014/QĐ-UBND ngày 08/7/2014.
5. Các nội dung khác vẫn giữ nguyên theo nội dung của Quyết định số 2754/QĐ-UBT ngày 20/11/1996 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nguồn:vungtau.baria-vungtau.gov.vn

Ngày 31/10 Sở Xây dựng ban hành Văn bản số 272/HD-SXD Hướng dẫn tổ chức quản lý các công trình miễn giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Theo đó, có 13 nhóm công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm:


a. Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp được xác định bằng văn bản, lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
b. Công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;
c. Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;
d. Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính nằm trong sơ đồ tổng mặt bằng công trường xây dựng đã được phê duyệt;
đ. Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;
e. Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng 2014;
g. Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
h. Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình (kể cả nhà ở);
i. Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài công trình nhưng không thay đổi quy mô công trình, không ảnh hưởng đến kết cấu chính công trình và không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;
k. Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;
l. Công trình xây dựng ở nông thôn, nhà ở riêng lẻ ở nông thôn; trừ các công trình, nhà ở riêng lẻ xây dựng tại một trong những khu vực sau:
- Khu vực thuộc quy hoạch chuyên ngành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc phê duyệt (áp dụng cho công trình được cơ quan nhà nước xác nhân phù hợp với quy hoạch chuyên ngành đó).
- Khu vực quy hoạch phát triển đô thị được duyệt.
- Khu vực có quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt.
- Khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa;
- Khu trung tâm cụm xã, trung tâm xã được xác định trong quy hoạch chung xã hoặc quy hoạch xã nông thôn mới;
- Nằm dọc tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và các tuyến đường đã có quy hoạch là tuyến lộ, tỉnh lộ, huyện lộ.
m. Công trình quảng cáo gồm: Màn hình chuyên quảng cáo ngoài trời có diện tích một mặt dưới 20 m2; Biển hiệu, bảng quảng cáo có diện tích một mặt dưới 20 m2 kết cấu khung kim loại hoặc vật liệu xây dựng tương tự gắn vào công trình xây dựng có sẵn; bảng quảng cáo đứng đốc lập có diện tích một mặt dưới 40 m2 (theo quy định tại khoản 2, Điều 31 Luật Quảng cáo năm 2012).
n. Công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động (theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Thông tư liên tịch số 15/2016/TTLT-BTTTT-BXD ngày 22/6/2016)
- Công trình cột ăng ten thuộc hệ thống cốt ăng ten nằm ngoài đô thị phù hợp với quy hoạch xây dựng hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc chấp thuận về hướng tuyến.
- Công trình công ăng ten không cồng kềnh tại khu vực đô thi phù hợp với quy hoạch xây dựng hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động khác thuộc đối tượng được miễn giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng và các quy định có liên quan.

Đồng thời hướng dẫn này nêu rõ về điều kiện khởi công xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng; trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư và nội dung quản lý trật tự xây dựng./.
Cổng TTĐT

Hướng dẫn chi tiết về công trình được miễn giấy phép xây dựng

Điều chỉnh cục bộ quy hoạch diện tích 3.907m2 thuộc quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Trục đường 51B (đoạn từ Sân bay đến đường Lê Hồng Phong), phường 8, TPVT.


Ngày 6/10/2016, UBND thành phố Vũng Tàu đã ban hành Quyết định số 9285/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch diện tích 3.907m2 thuộc quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Trục đường 51B (đoạn từ Sân bay đến đường Lê Hồng Phong), phường 8, TPVT, nội dung điều chỉnh như sau:

1. Điều chỉnh phạm vi ranh giới:
-  Phía Bắc giáp: Đường Nguyễn An Ninh;
-  Phía Tây giáp: Đường Đội Cấn và khu dân cư hiện trạng;
-  Phía Đông giáp: Chung cư theo quy hoạch và khu dân cư hiện trạng;
-  Phía Nam giáp: Khu dân cư hiện trạng.

2.  Điều chỉnh quy mô và tính chất:
Quy mô: Diện tích khu vực điều chỉnh cục bộ: 3.907m2
Tính chất khu đất điều chỉnh cục bộ:  là khu dân cư hiện trạng do dân tự xây dựng nhà ở.
3. Nội dung điều chỉnh quy hoạch:
a. Quy hoạch sử dụng đất: Điều chỉnh cục bộ quy hoạch diện tích khoảng 3.907m2 thuộc lô L2, H12 từ đất nhà ở liên kế xây dựng theo dự án đầu tư thành đất khu dân cư hiện trạng xây dựng nhà ở tầng cao tối đa ≤ 04 tầng, mật độ xây dựng theo Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam hiện hành.
b. Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật: Tại khu vực điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh hệ thống đấu nối hạ tầng kỹ thuật cho từng lô đất xây dựng nhà ở cho phù hợp.
c. Các quy định quản lý về không gian, kiến trúc, cảnh quan và các quy định khác tuân thủ Tiêu chuẩn, quy chuẩn Xây dựng Việt Nam và các quy định của Quy chế Quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị thành phố Vũng Tàu đã được UBND thành phố Vũng Tàu phê duyệt tại Quyết định số 03/2014/QĐ-UBND ngày 08/7/2014.

Nguồn: vungtau.baria-vungtau.gov.vn



Mô hình Văn phòng đăng ký đất đai một cấp: Hoạt động chưa ổn, hồ sơ trễ hẹn tăng cao

Điều chỉnh cục bộ phân lô và lộ giới Khu nhà ở Nam Kỳ Khởi Nghĩa ,

phường 3, Thành phố Vũng Tàu

Sau gần 5 tháng đi vào hoạt động (từ ngày 1-7-2016), mô hình Văn phòng đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) một cấp chưa hoàn thiện và bộc lộ nhiều bất cập, tỷ lệ hồ sơ đất đai bị trễ hẹn lên đến gần 50%, có những thời điểm tỷ lệ trễ hẹn đến 70-80%.














​​


                                   Người dân nộp hồ sơ đất đai ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ một cửa UBND TP. Vũng Tàu. 

HIỆU QUẢ CHƯA CAO

Trước đây, ngoài Văn phòng ĐKQSDĐ tỉnh trực thuộc Sở TN-MT, mỗi huyện, thành phố còn có một Văn phòng ĐKQSDĐ thuộc phòng TN-MT. Theo mô hình cũ, hồ sơ đổi, cấp lại giấy chứng nhận, chuyển nhượng, cho tặng QSDĐ của người dân được xử lý tại Văn phòng ĐKQSDĐ cấp huyện. Còn theo mô hình mới, các loại hồ sơ đất đai nói trên sau thời gian kiểm tra, thẩm định (tối đa không quá 7 ngày làm việc), sẽ được chuyển lên VPĐKĐĐ tỉnh để rà soát và trình cho Sở TN-MT ký. Sau đó, hồ sơ được chuyển về các Chi nhánh VPĐKĐĐ để trả cho người dân.

Theo báo cáo của Sở TN-MT, từ khi mô hình VPĐKĐĐ một cấp đi vào hoạt động, Sở TN-MT đã tiếp nhận khoảng 5.800 hồ sơ, trong đó có 2.800 hồ sơ của các tổ chức, DN, số còn lại của các hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, trong 2 tháng đầu khi xử lý hồ sơ đất đai tại VPĐKĐĐ thì có khoảng 70-80% hồ sơ đất đai của hộ gia đình, cá nhân thuộc thẩm quyền của Sở TN-MT bị giải quyết trễ hẹn. Hiện nay, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn mới chỉ đạt 50,94%. Tại cuộc họp thảo luận về tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh diễn ra tháng 10-2016 do Tỉnh ủy tổ chức, đồng chí Nguyễn Văn Hoàng, Chủ tịch UBND TP. Bà Rịa cho biết, trước khi có mô hình VPĐKĐĐ một cấp, tỷ lệ hồ sơ đất đai ở địa phương trễ hẹn chỉ chiếm 5%. Nhưng từ khi hồ sơ đất đai chuyển về VPĐKĐĐ một cấp xử lý, tỷ lệ hồ sơ trễ hẹn lên đến 30-40%. Tỷ lệ hồ sơ trễ hẹn cao nên mức độ hài lòng của người dân về công tác CCHC của TP. Bà Rịa cũng giảm từ 99% xuống còn 93%.

Tại TP. Vũng Tàu, có đến 80% hồ sơ đất đai phải xác minh lại. Do đó, việc tập trung hồ sơ theo mô hình mới ở VPĐKĐĐ một cấp làm cho khối lượng hồ sơ quá tải nên tỷ lệ hồ sơ trễ hẹn ở địa phương tăng cao. Được biết, hiện nay, mỗi tháng TP. Vũng Tàu tiếp nhận 1.600 hồ sơ đất đai. Tuy nhiên, đến nay chỉ có hơn 68% hồ sơ giải quyết đúng hẹn, còn lại gần 32% hồ sơ vẫn trễ hẹn.

















                                             Chuyên viên của VPĐKĐĐ một cấp xử lý hồ sơ đất đai của người dân và tổ chức, DN.

NHIỀU GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Theo đồng chí Lê Ngọc Linh, Giám đốc Sở TN-MT, qua gần 5 tháng chuyển tiếp vận hành theo mô hình mới, VPĐKĐĐ một cấp vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Cụ thể, trước đây thủ tục cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện. Tuy nhiên, từ ngày 1-7-2016, công việc này chuyển sang thuộc thẩm quyền của Sở TN-MT nên dẫn đến tình trạng quá tải trong công tác giải quyết TTHC do lượng hồ sơ rất lớn từ các huyện, thành phố chuyển về. Trong khi đó, nguồn nhân lực tại VPĐKĐĐ một cấp mới chỉ có 8 người vừa phải giải quyết hồ sơ tổ chức, DN như trước đây, vừa phải giải quyết hồ sơ hộ gia đình, cá nhân.

Cũng theo đồng chí Lê Ngọc Linh, việc vận dụng các quy định của pháp luật về đất đai tại các chi nhánh VPĐKĐĐ cấp huyện chưa thống nhất, còn nhiều sai sót về mặt pháp lý và kỹ thuật nên hồ sơ bị ách tắc. Chẳng hạn như nhiều trường hợp hồ sơ phải trả lại do viết sai thông tin trên giấy chứng nhận do nhầm lẫn (ghi sai về địa danh thửa đất, thời hạn sử dụng đất, diện tích, nguồn gốc sử dụng đất…); thiếu thông tin xác nhận về quy hoạch, tranh chấp; thiếu các mẫu biểu theo quy định; chưa thực hiện xác nhận biến động trên giấy chứng nhận trước khi trình cấp đổi giấy chứng nhận… nên phải chuyển trả lại hồ sơ để chi nhánh chỉnh sửa. Ngoài ra, thời gian đầu, hồ sơ đất đai của hộ gia đình, cá nhân tại các chi nhánh được chuyển bằng đường bưu điện đến Sở TN-MT, sau khi có kết quả, Sở TN-MT cũng chuyển lại cho các chi nhánh bằng đường bưu điện. Thời gian để vận chuyển hồ sơ qua đường bưu điện trung bình mất ít nhất 2-3 ngày làm việc đã dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc trả kết quả.


















                                          VPĐKĐĐ một cấp luôn quá tải, khiến cho lượng hồ sơ đất đai tồn đọng nhiều. Ảnh: MINH TÂM

Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên, hiện Sở TN-MT đang triển khai luân chuyển, giải quyết hồ sơ trên phần mềm Vilis 2.0 thông qua đường truyền cơ sở dữ liệu T78. Đây là phần mềm nhằm bảo đảm hồ sơ đất đai được vận chuyển nhanh chóng, an toàn, thuận tiện, giúp rút ngắn thời gian giải quyết TTHC và tiết giảm được chi phí vận chuyển hồ sơ qua đường bưu điện. Song song đó, hiện ngành TN-MT cũng đang triển khai việc sử dụng phần mềm Villis 2.0 và áp dụng đường truyền điện tử để trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý đất đai trong việc xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất trên địa bàn huyện Long Điền, Châu Đức. Dự kiến trong quý II-2017 sẽ hoàn thành phần mềm Vilis 2.0 và đường truyền điện tử để triển khai rộng rãi trên địa bàn các huyện, thành phố còn lại. Ngoài ra, nhằm rút ngắn thời gian hao phí cho việc vận chuyển, Sở TN-MT đã chỉ đạo ngoài việc vận chuyển qua đường bưu điện, các Chi nhánh VPĐKĐĐ phải bố trí nhân viên thường trực nhiệm vụ luân chuyển hồ sơ giữa chi nhánh và VPĐKĐĐ một cấp để tránh ách tắc hồ sơ.

Bên cạnh các giải pháp về kỹ thuật, để nâng cao tỷ lệ hồ sơ đúng hẹn, Sở TN-MT còn tăng cường nhân sự cho VPĐKĐĐ một cấp trên cơ sở điều chuyển viên chức, người lao động tại các chi nhánh cấp huyện về nhận nhiệm vụ tại VPĐKĐĐ một cấp để giải quyết tình trạng quá tải do lượng hồ sơ của hộ gia đình, cá nhân và các nhiệm vụ khác phát sinh. “Chúng tôi phấn đấu từ nay đến cuối năm 2016 sẽ nâng tỷ lệ giải quyết đúng hạn hồ sơ đất đai của hộ gia đình, cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở TN-MT lên 80%”, đồng chí Lê Ngọc Linh cho biết.

Từ ngày 1-1-2016 đến ngày 16-11-2016, Sở TN-MT tiếp nhận 5.623 hồ sơ đất đai của các hộ gia đình, cá nhân. Hiện Sở TN-MT đã giải quyết 5.208 hồ sơ, trong đó 2.653 hồ sơ giải quyết đúng hạn (tỷ lệ 50,94%); 2.555 hồ sơ giải quyết quá hạn (tỷ lệ 49,06%); 377 hồ sơ đang giải quyết; 38 hồ sơ trả lại do không đủ điều kiện hoặc do người sử dụng đất tự rút hồ sơ.

 

Nguồn: baobariavungtau.com.vn